Error message

Notice: Undefined offset: 1 in counter_get_browser() (line 77 of /home7/thienvie/public_html/sites/all/modules/counter/counter.lib.inc).

NGHI THỨC THIỀN MÔN

Lễ Sám Hối (Văn Xám Hối) (Lời Tụng: Thượng Tọa Thích Tuệ Giác)
Lễ Văn Phát Nguyện (Lời Tụng: Thượng Tọa Thích Tuệ Giác)
Lễ Phật Đản - Lễ Phật Thành Đạo (Lời Tụng: Thượng Tọa Thích Tuệ Giác)
Lễ Vu Lan (Lời Tụng: Thượng Tọa Thích Tuệ Giác)
Lễ Xám Hối Sáu Căn (Lời Tụng: Hoà Thượng Thích Nhật Quang)

Ghi chú: cho Các khóa lễ Văn Phát Nguyện, Phật Đản Sanh, Thành Đạo, Vu Lan, hoặc Xám Hối Sáu Căn: Sau khi trần thiết hương án Phật tượng và phẩm vật cúng dường, bắt đầu khóa lễ cũng vào nghi thức thường lệ tụng Bát-nhã 3 lần (tụng chậm), sau đó quỳ đọc bài sám này thay cho bài văn sám hối. Tiếp mười hai lời nguyện và hồi hướng phục nguyện như nghi thức sám hối

LỄ SÁM HỐI

NGUYỆN HƯƠNG

(Quỳ nguyện hương)
Trầm thủy, rừng Thiền hương sực nức.
Chiên đàn vườn tuệ đã vun trồng.
Ðao Giới vót thành hình non thẳm.
Nguyện đốt lò tâm mãi cúng dâng.
Nam-mô Bồ-tát Hương Cúng Dường. (3 lần, đứng lên)

INCENSE OFFERING

(Kneel for Incense Invocation)
In the Zen forest, the Tagara is scented.
In the garden of wisdom, the sandalwood is already grown.
Sharpened by the sword of precepts, it's tall like a mountain.
I vow to offer Buddha forever the scent of mind.
Homage Incense Cloud Canopy Bodhisattva (3 times, rise).

TÁN PHẬT

Ðại từ, đại bi thương chúng sanh.
Ðại hỷ, đại xả, cứu hàm thức.
Tướng đẹp sáng ngời dùng trang nghiêm.
Chúng con chí tâm thành đảnh lễ.

- Chí tâm đảnh lễ, tất cả chư Phật ba đời tột hư không khắp pháp giới. ( 1 lạy )
- Chí tâm đảnh lễ, tất cả Chánh pháp ba đời tột hư không khắp pháp giới. ( 1 lạy )
- Chí tâm đảnh lễ, tất cả Tăng bậc Hiền Thánh ba đời tột hư không khắp pháp giới. ( 1 lạy )

BUDDHA PRAISE

The Great Loving-Kindness and Compassion loves all sentient beings.
The Great Joy and Equanimity refuges all conscious beings.
In front of your brilliant appearance and solemnity.
I sincerely prostrate to you.

- I sincerely prostrate to all Buddhas of three periods from upmost nil in all dharma realms. (1 full-bow)
- I sincerely prostrate to all Dharmas of three periods from upmost nil in all dharma realms. (1 full-bow)
- I sincerely prostrate to all Sangha and Sages of three periods from upmost nil in all dharma realms. (1 full-bow)

TÁN PHÁP

Pháp Phật sâu mầu chẳng gì hơn.
Trăm ngàn muôn kiếp khó được gặp.
Nay con nghe thấy vâng gìn giữ.
Nguyện hiểu nghĩa chơn Ðức Thế Tôn.
Qui kính Phật Bồ-tát trên hội Bát Nhã. (3 lần)

DHARMA PRAISE

Buddhist Dharma is incomparably profound and marvelous.
Could hardly meet in hundreds of thousands of millions of lifetimes.
Now that I hear and see it, I preserve it.
I vow to understand the true meaning Tathagata's words.
My homage to Buddhas and Bodhisattvas in Prajna assembly. (3 times)

TÂM KINH TRÍ TUỆ - CỨU CÁNH RỘNG LỚN

Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, liền qua hết thảy khổ ách.

Này Xá-lợi-phất! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc. Thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như thế.

Này Xá-lợi-phất! Tướng không của các pháp, không sanh, không diệt, không nhơ không sạch, không thêm không bớt. Cho nên trong tướng không không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; không có nhãn giới, cho đến không có ý thức giới; không có vô minh cũng không có hết vô minh, cho đến không có già chết cũng không có hết già chết; không có khổ, tập, diệt, đạo, không có trí tuệ cũng không có chứng đắc.

Vì không có chỗ được, nên Bồ-tát y theo Bát-nhã Ba-la-mật-đa tâm không ngăn ngại. Vì không ngăn ngại nên không sợ hãi, xa hẳn điên đảo mộng tưởng, đạt đến cứu cánh Niết-bàn. Chư Phật trong ba đời cũng nương Bát-nhã Ba-la-mật-đa được đạo quả Vô Thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Nên biết, Bát-nhã Ba-la-mật-đa là đại thần chú, là đại minh chú, là vô thượng chú, là vô đẳng đẳng chú, hay trừ được hết thảy khổ, chân thật không dối. Vì vậy nói chú Bát-nhã ba-la-mật-đa, liền nói chú rằng:

"Yết-đế, yết-đế, ba-la yết- đế, ba-la tăng yết-đế, bồ-đề tát-bà-ha". (3 lần)

PRAJNAPARAMITA HEART SUTRA (Maha Prajnaparamita Sutra)

When Avalokita Bodhisattva practiced deeply Prajna Paramita, he perceived that five aggregates (Skanhas) are empty. Immediately, he overcame all suffering and misfortune.

Sariputa! Form does not differ from emptiness, while emptiness does not differ from form. Form is emptiness and emptiness is form. Feeling, perception, volition, and consciousness are the same.

Sariputa! The form of emptiness of all dharmas are not arising, not ceasing, not defiled, not pure, not increasing, and not decreasing. Therefore, in the emptiness there is no form, feeling, perception, volition, and consciousness; no eye, ear, nose, tongue, body, mind; no form, sound, smell, taste, touch, and mind object; no realm of sight to even realm of consciousness; no ignorance and also no ending of ignorance, even no aging, death and also no ending of aging and death; no suffering, accumulation, cessation, way, wisdom, and also attainment.

Because of nothing to attain, Bodhisattva lived by Prajna paramita with no hindrance in his mind. Because of no hindrance, he had no fear and passed far beyond the delusive thoughts to attain Ultimate Nirvana. The Buddhas of the past, present, and future also have lived by Prajna paramita to attain the fruition of Supreme Perfect Enlightenment.

Know that Prajna Paramita is the great mantra, great wisdom mantra, supreme mantra, and unsurpassed mantra, which can relieve all sufferings. This is true, not false. Therefore, proclaim Prajna Paramita suttra by saying:

Gate, Gate, Paragate, Parasamgate, Bodhi Svaha. (3 times)

(Meaning: Gone, gone, gone beyond, and gone far beyond, Enlightenment)

LỄ PHẬT TỔ

Chí tâm đảnh lễ, Quá khứ Phật Tỳ-bà-thi.
Chí tâm đảnh lễ, Hiện tại Phật Thích-ca Mâu-ni.
Chí tâm đảnh lễ, Vị lai Phật Di Lặc Tôn.
Chí tâm đảnh lễ, Tổ sư Ðại Ca-diếp.
Chí tâm đảnh lễ, Tổ sư A-nan.
Chí tâm đảnh lễ, Tổ sư Bồ-đề-đạt-ma.
Chí tâm đảnh lễ, Tổ sư Huệ Khả.
Chí tâm đảnh lễ, Tổ sư Huệ Năng.
Chí tâm đảnh lễ, Tổ sư Trúc Lâm Ðại Ðầu-đà.
Chí tâm đảnh lễ, Tổ sư Pháp Loa.
Chí tâm đảnh lễ, Tổ sư Huyền Quang.
Chí tâm đảnh lễ, Tất cả chư vị Tổ sư Ấn Ðộ, Trung Hoa, Việt Nam.

BOWING TO BUDDHAS AND PATRIACHS

I sincerely prostrate to Vipacyi Buddha of past.
I sincerely prostrate to Sakyamuni Buddha of the present.
I sincerely prostrate to Maitreya Buddha of the future.
I sincerely prostrate to Patriarch Mahakassapa.
I sincerely prostrate to Patriarch Ananda.
I sincerely prostrate to Patriarch Bodhidharma.
I sincerely prostrate to Patriarch Hui Ko.
I sincerely prostrate to Patriarch Hui Neng.
I sincerely prostrate to Patriarch Truc Lam Dai Dau Da.(The Great Teacher of Bamboo Grove).
I sincerely prostrate to Patriarch Phap Loa.
I sincerely prostrate to Patriarch Huyen Quang.
I sincerely prostrate to all Patriarchs of India, China, and Vietnam.

VĂN SÁM HỐI

Chúng con đồng đến trước Phật đài,
Tâm thành đảnh lễ mười phương Phật,
Tất cả Bồ-tát trong ba đời,
Thanh văn Bích Chi chúng hiền Thánh,
Đồng đến chứng minh con phát lồ:
Bao nhiêu tội lỗi trong nhiều kiếp,
Ba nghiệp gây nên chẳng nghĩ lường,
Nổi chìm lăn lộn trong ba cõi,
Tội ác chiêu hoài không biết dừng.
Hôm nay tỉnh giác con sám hối,
Hổ thẹn ăn năn mọi lỗi lầm,
Cầu xin chư Phật đồng chứng giám,
Bồ-tát Thanh văn thảy hộ trì.
Khiến con tội cũ như sương tuyết,
Hiện tại đời con đang sống đây,
Tuy có duyên lành gặp Phật pháp,
Mà đã gây nên lắm nghiệp khiên.
Lòng còn chứa chấp tham kiêu mạn,
Sân si tật đố hạnh tà mê,
Miệng nói điêu ngoa thêm dối trá,
Gạt lường ác khẩu lời vu oan,
Sát sanh hại vật thân gây tạo,
Thương tổn sanh linh để lợi mình,
Tam bảo chứng minh con sám hối.
Dứt tâm tương tục kể từ đây,
Không hề tái phạm dù lỗi nhỏ,
Nguyện gìn ba nghiệp như giá băng,
Nguyện đạt chân tông giáo viên đốn,
Kiến tánh viên minh tâm nhất như.
Vọng tình ngoại cảnh dường mây khói,
Nghiệp thức vốn không trí sáng ngời,
Liễu sanh thoát tử không ngăn ngại,
Tam giới ra vào độ chúng sanh.
Thuyền từ chống mãi không dừng nghỉ,
Đưa hết sanh linh lên giác ngạn,
Công đức tu hành xin hồi hướng,
Tất cả chúng sanh đều Niết-bàn.
Vào nhà chư Phật ngồi tòa báu,
Mặc áo Như Lai chứng Pháp thân,
Đồng phát Bồ-đề tâm bất thối,
Đồng ngộ vô sanh pháp giới chân,
Đồng lên Phật quả vào Diệu giác,
Đồng nhập Chân như thể sáng tròn.

REPENTANCE LITERATURE

Gathering before the Buddha altar,
With utmost sincerity and deep respect,
We all bow to the Buddhas in the ten directions.
May the Boddhisattvas in the three periods of time,
Together with Shravaka, Pratyekabuddha, Sages and Saints,
Please verify our proclamation:
So many misdeeds we have done in previous lives,
Originated from the bodily, verbal and mental actions.
We have been going up and down the Three Realms,
As we have unceasingly committed various sins.
Now that we are awakened,
Feeling ashamed, remorseful,
We vow not to commit any more sins.
May the Buddhas, Boddhisattvas, and Shravakas,
Verify and support us so that all previous sins will be eradicated.
In our present life, thanks to good causes in the past,
We have learned the Buddha’s Teachings,
And yet, we have accumulated so much bad karma,
Deep in our heart, we nurtured greed, hatred, delusion,
Telling lies, cheating, slandering, hurting others,
And killing animals for our sake.
May the Three Jewels verify our repentances.
We vow to stop our wandering mind,
Never to commit any sin, even the slightest one.
We wish to grasp the true meaning of the Teachings,
Seeing our true nature, and attaining one-pointed mind.
Then, all wrong thoughts and sense objects will vanish in the air.
The nature of all sin is basically emptiness,
The true wisdom will brilliantly shine.
If we master life and death, we can get back to this world,
To help all living beings get to the shore of enlightenment.
May the merits of this practice,
Be transferred to all living creatures,
May they all enter Nirvana,
Sit in the Buddha’s House,
Clad in Buddha’s Robe, and attain the Dharmakaya.
May we relentlessly give rise to the Boddhichitta,
Attain Non-birth, and True Dharma Realm,
Become Buddha with Wonderful Enlightenment,
Getting insight into true suchness,
That is perfectly bright and round.

Chủ Lễ Xướng

Tánh tội vốn không, do tâm tạo,
Tâm nếu diệt rồi, tội sạch trong,
Tội trong tâm diệt, cả đều không,
Thế ấy mới là chân sám hối.
Nam-mô Cầu Sám Hối Bồ-tát. (Đồng tụng ba lần)

Head of Ceremony Invocation

The nature of all wrongdoing is emptiness,
If your mind is purified, your sins are cleared,
Mind and sins being empty, there is nothing to fear.
That is the meaning of true repentance.
Homage to the Contrition Boddhisattva. (3 times)

TỤNG TAM QUI, NGŨ GIỚI

TAM QUI:

Chúng con nguyện suốt đời qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng.

Qui y Phật là: Chúng con trọn đời tôn thờ kính trọng tu theo đức Phật Thích Ca Mâu Ni, là bậc thầy giác ngộ sáng suốt của chúng con.
Qui y Pháp là: Chúng con trọn đời tôn thờ kính trọng tu theo chánh pháp từ kim khẩu đức Phật nói ra.
Qui y Tăng là: Chúng con trọn đời tôn thờ kính trọng tu theo những Tăng sĩ tu hành đúng theo chánh pháp của Như Lai.

* Quy y Phật rồi, chúng con không kính trọng tu theo Trời, thần, quỷ, vật.
* Quy y Pháp rồi, chúng con không kính trọng tu theo ngoại đạo, tà giáo.
* Quy y Tăng rồi, chúng con không kính trọng, làm thân với bạn dữ, nhóm ác.

NGŨ GIỚI:

1) Chúng con nguyện trọn đời giữ giới không sát sanh Nghĩa là chúng con không tự mình giết người bằng mọi cách, không sai bảo kẻ khác giết người, không vui thích thấy nghe kẻ khác giết người. Cho đến những con vật lớn, chúng con cũng không nhẫn tâm giết hại, mà hằng bảo vệ sinh mạng chúng sanh.

2) Chúng con nguyện trọn đời giữ giới không trộm cướp. Nghĩa là chúng con thấy tài sản, vật dụng của người, không khởi lòng tham, lén lấy hay giựt lấy; mà luôn luôn bảo vệ tài sản của người như tài sản mình.

3) Chúng con nguyện trọn đời giữ giới không tà dâm. Nghĩa là chúng con chỉ một vợ một chồng, chớ không có lòng mê hoa đắm sắc, làm điều tà vạy, gây đau khổ cho gia đình mình và gia đình người; mà hằng tán thán ca ngợi đời sống trinh bạch.

4) Chúng con nguyện trọn đời giữ giới không nói dối. Nghĩa là chúng con không do lòng tham nói lời dối trá lừa bịp người, không do lòng nóng giận nói lời hung dữ khiến người buồn rầu, không do lòng hiểm ác nói lời vu oan, vu cáo khiến người bị khó khăn tù tội; mà hằng nói lời chân thật ngay thẳng.

5) Chúng con nguyện trọn đời giữ giới không uống rượu. Nghĩa là chúng con không uống các thứ ruợu mạnh và nhẹ khiến tâm trí rối loạn mờ tối, thân thể sanh nhiều bệnh hoạn, chuốc lỗi lầm với thân nhân quyến thuộc; cho đến các thứ á phiện, xì ke, ma túy thảy đều tránh xa.

Cúi xin Tam bảo hộ trì khiến chúng con đầy đủ nghị lực, giữ gìn năm giới trong sạch để được làm người tốt trong đời này và đời sau.

CHÍ TÂM PHÁT NGUYỆN - CHÍ TÂM HỒI HƯỚNG

Một nguyện nguồn linh thường trong lặng.
Hai nguyện Tạng thức dứt lăng xăng.
Ba nguyện khối nghi đều tan nát.
Bốn nguyện trăng Ðịnh mãi tròn đầy.
Năm nguyện pháp trần không khởi diệt.
Sáu nguyện lưới ái lìa buộc ràng.
Bảy nguyện suy nghĩ hành Thập Ðịa.
Tám nguyện nghe suốt bỏ Tam thiên.
Chín nguyện tâm vượn thôi nhảy nhót.
Mười nguyện ý ngựa dứt cương yên.
Mười một nguyện mở lòng nghe Phật dạy.
Mười hai nguyện mến thích Tổ Sư Thiền.

Chúng con hồi tâm về Thánh Chúng.
Ân cần đầu cúi lễ Từ Tôn.
Thềm thang Thập Ðịa nguyện sớm lên.
Chân tâm Bồ-đề không thối chuyển.

PHỤC NGUYỆN (Chủ lễ xướng)

Cửa Thiền thường nghiêm tịnh,
Toàn chúng mãi thuận hòa,
Phật tuệ chiếu sáng ngời.
Mưa pháp hằng nhuần gội.
Phật tử lòng tin sâu,
Ruộng phước càng tăng trưởng.
Chúng sanh sống an lạc,
Vui hưởng cảnh thái bình.
Nơi nơi dứt đao binh,
Mỗi mỗi đều thành Phật.
Nam-mô Phật Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni.

BA TỰ QUY Y

Tự quy y Phật, nguyện cho chúng sanh, hiểu thấu đại đạo, phát tâm vô lượng.
Tự quy y Pháp, nguyện cho chúng sanh, thâm nhập tam tạng, trí tuê như biển.
Tự quy y Tăng, nguyện cho chúng sanh, quản lý đại chúng, tất cả không ngại.

LỄ VĂN PHÁT NGUYỆN

Đệ tử chúng con một lòng thành,
Nguyện cho đất nước mãi thanh bình,
Tai nạn đao binh đều dứt sạch,
Huynh đệ nhìn nhau con một nhà.
Xót thương cứu giúp tiêu thù hận,
Cả trên thế giới thảy an lành,
Cùng chung nhân loại lòng yêu mến,
Sớt cơm chia áo một tâm thành.
Kết tình đồng loại như ruột thịt,
Nguyện cả chúng sanh đến côn trùng,
Cùng khởi lòng thương che chở thảy,
Ai đành sát hại làm lợi mình.
Mong sao toàn thể cùng vui sống,
Nguyện mưa chánh pháp khắp quần sanh,
Mọi người đều được ơn nhuần gội,
Nhiệt não tiêu tan lòng thanh lương.
Tam thừa thánh quả đều an trụ,
Nguyện con dứt sạch mọi não phiền,
Gắng tu chẳng chút sanh lười mỏi,
Lập chí vững chắc như kim cương.
Dù bao sóng gió không lay động,
Thẳng bước tiến lên quả vô sanh,
Yêu ma quỉ mị không ngăn nổi,
Chiếc gươm trí tuệ tay chẳng rời.
Đơn đao đột nhập vô thượng giác,
Tam độc bát phong không chướng ngăn,
Chỉ một chân như tam-muội ấn,
Tiến thẳng vào trong nhà Pháp thân.
Trên ngọn Diệu Phong rong tự tại,
Xem xét mười phương chúng khổ đau,
Khởi từ phương tiện tùy ứng hóa,
Đưa chúng đồng lên bờ Niết-bàn.
Dù bao gian khổ lòng không nản,
Công đức tu hành xin hướng về,
Tất cả chúng sanh cùng mình được,
Đồng nương chánh pháp tối thượng thừa,
Lên ngôi chánh giác chứng Phật đạo.

LỄ PHẬT ĐẢN - LỄ PHẬT THÀNH ĐẠO

Hôm nay là ngày Phật Đản
(Hôm nay là ngày Phật Thành Đạo),
Toàn thể chúng con,
Tâm thành kính lễ.
Lòng tràn hoan hỷ,
Cảm kích vô cùng,
Đức Phật ra đời ,
Vì thương nhân loại.
Chúng sanh chìm đắm,
Trong biển trầm luân,
Sanh tử không dừng,
Chừng nào ra khỏi.
Thuyền từ rời bến,
Vào chốn biển mê,
Cứu vớt chúng sanh,
Đưa lên bờ giác.
Vô minh đêm tối,
Chẳng biết lối đi,
Cầm đuốc đưa đường,
Dẫn về quê cũ.
Thế Tôn ứng hiện,
Dưới cội Vô ưu,
Vừa mới ra đời,
Liền đi bảy bước.
Gót chân sen nở,
Nhạc trời reo vang,
Mừng đấng cứu đời,
Giáng sanh trần thế.
Tin vui đồn khắp,
Thành thị thôn quê,
Nô nức reo hò,
Như hạn gặp mưa,
Như con mừng mẹ.
Ngài đã lớn lên,
Sống trong nhung lụa,
Ở vị Đông cung,
Mà không mãn ý.
Đền vàng điện ngọc,
Chẳng chút bận tâm,
Vợ đẹp con yêu,
Không sao trói buộc.
Canh cánh nỗi lòng,
Vì thương nhân loại.
Rồi một đêm ấy,
Vượt thành xuất gia.
Tìm học các tiên,
Mà không toại nguyện.
Quyết tâm khổ hạnh,
Thử đạt đạo chăng?
Đã trải sáu năm,
Chỉ chiêu kiệt lực.
Bỏ tu khổ hạnh,
Đến cội Bồ-đề,
Thệ nguyện nơi đây ,
Nếu không thành đạo,
Xương tan thịt nát,
Thề không đổi dời.
Đến đêm bốn chín,
Sao mai vừa lên,
Đạo cả sáng ngời,
Bồ-đề viên mãn.
Mối mang sanh tử,
Cội gốc vô minh,
Dứt sạch vỡ tan,
Không còn manh vụn.
Ngài liền tuyên bố,
Chứng quả Bồ-đề,
Thành bậc Chánh giác.
Nhớ đến chúng sanh,
Lặn hụp biển mê,
Ngài đi hoằng hóa,
Ngót bốn mươi năm,
Không hề ngừng nghỉ.
Người đạt đạo quả,
La-hán rất nhiều,
Bồ-tát chư thiên,
Không sao tính kể.
Chánh pháp từ đây,
Rao truyền rộng khắp,
Phá tan mê chấp,
Tẩy sạch tà đồ,
Mở mắt chúng sanh,
Thấy trời quang đãng,
Đông Tây Nam Bắc,
Khắp cõi Ta-bà,
Dần được no lòng,
Nếm mùi giải thoát.
Đến tám mươi tuổi,
Vào rừng Sa-la,
Ở dưới hai cây,
Thế Tôn thị tịch.
Chúng Tăng than khóc,
Chư Thiên ngậm ngùi,
Đức Phật hết duyên,
Niết-bàn an nghỉ.
Ân cao đức trọng,
Làm sao đáp đền ?
Chỉ cố gắng tu,
Đạt được đạo quả.
Mồi đèn nối lửa,
Đời đời không dừng,
Đền ơn chư Phật,
Là ơn chẳng đền.
Giáo hóa chúng sanh,
Là đền ơn Phật.
Chúng con phát nguyện,
Quyết chí tiến tu,
Theo gương đức Phật.
Chúng sanh còn mê,
Chúng con phải giác,
Chúng sanh còn khổ,
Chúng con ban vui,
Không sót một người,
Mới tròn bản nguyện.
Chí tâm đảnh lễ: Nam-mô Giáo chủ cõi Ta-bà, Phật Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni.

LỄ VU LAN

Hôm nay chúng tăng Tự tứ,
Ngày hội Vu Lan.
Toàn thể chúng con:
Tăng, Ni, Phật tử,
Hồi tâm tưởng nhớ,
Tôn giả Mục Liên.
Tu hành đã chứng,
Lục thông La-hán,
Vẫn còn thương mẹ,
Chẳng biết nơi nao ?
Sáu đạo luân hồi,
Quyết tâm tìm kiếm,
Thiên nhãn soi cùng,
Đến nơi ngạ quỉ,
Mẹ ta đây rồi !
Lang thang đói khổ,
Ruột đau như cắt,
Khôn thể ngồi yên.
Liền đi khất thực,
Được bát cơm đầy,
Dùng thần túc thông,
Đem cơm dâng mẹ,
Nhìn thấy bát cơm,
Mẹ mừng khôn xiết,
Tay vừa bốc ăn,
Cơm liền hóa lửa !
Đớn đau khó tả,
Rơi lệ dầm dề,
Vội lui trở về,
Cầu Thế Tôn cứu,
Thế Tôn chỉ dạy,
Lập hội Vu Lan,
Thỉnh mười phương Tăng,
Đồng tâm cầu nguyện.
Lễ hội vừa xong,
Cõi trời mẹ đến,
Mục Liên hớn hở,
Vui vẻ khôn cùng,
Lại hỏi Phật thêm,
Con hiếu sau này,
Mẹ cha quá cố,
Lập hội được chăng ?
Phật liền dạy rằng,
Thiết lễ Vu Lan,
Cứu độ lục thân,
Bảy đời cha mẹ.
Nhớ gương Mục Liên,
Người con hiếu thảo,
Tu chứng giải thoát,
Vẫn quí mẹ cha.
Huống nữa chúng con,
Còn là phàm tục,
Công ơn cha mẹ,
Trời bể khôn bì.
Bổn phận làm con,
Làm sao quên được,
Dâng hiến trọn đời,
Chưa tròn chữ hiếu.
Thân con có ra,
Từ nơi cha mẹ,
Dù nát thân này,
Chẳng đủ đền ân,
Con nào dám nghĩ,
Bỏ mẹ quên cha,
Có ai ruột rà,
Bằng cha với mẹ.
Sanh thành khổ nhọc,
Nuôi dưỡng tâng tiu,
Miễn con khỏe vui,
Là cha mẹ thích,
Con vừa chớm bệnh,
Cha mẹ buồn rầu,
Chạy ngược chạy xuôi,
Rước thầy tìm thuốc.
Chỉ nghĩ đến con,
Mà quên khổ nhọc.
Con là hòn ngọc,
Của quí mẹ cha,
Vắng mặt con thơ,
Mẹ cha sầu thảm,
Dù con khôn lớn,
Cha mẹ nào quên,
Thương mãi thương hoài,
Đến ngày nhắm mắt.
Hy sinh cả đời,
Cũng vì con trẻ,
Muốn được con vui,
Quên mình tạo tội,
Đời này đã khổ,
Kiếp khác nào an,
Càng nghĩ đến Người,
Lòng con se thắt !
Nguyện tu tinh tấn,
Làm những điều lành,
Dâng công đức này,
Đền ân cha mẹ,
Xin trên Tam Bảo,
Chứng giám lòng con,
Bao nhiêu phước lành,
Nguyền xin hồi hướng,
Cho đấng hai thân,
Còn sống an khang,
Phát tâm Bồ-đề,
Tu hành chánh giác;
Nếu đã quá cố,
Siêu thoát trầm luân,
Sanh trong đường lành,
Tu theo chánh pháp,
Hạnh duyên đầy đủ,
Phật đạo chóng thành.
Nam-mô Đại Hiếu Tôn Giả Mục Kiền Liên. (3 lần)

LỄ XÁM HỐI SÁU CĂN

(Mắt, Tai, Mũi, Lưởi, Thân, Ý)
Chí tâm sám hối, chúng con từ vô thỉ kiếp đến nay.
Bỏ mất bản tâm, không biết chánh đạo.
Rơi ba đường khổ, bởi sáu căn lầm,
Không sám lỗi trước, khó tránh hối sau.

NGHIỆP CĂN MẮT LÀ:

Nhân ác xem kỹ, nghiệp thiện coi khinh,
Lầm nhận hoa giả, quên ngắm trăng thật.
Yêu ghét nổi dậy, đẹp xấu tranh giành,
Chợt mắt dối sanh, mờ đường chánh kiến.
Trắng qua xanh lại, tía phải vàng sai,
Nhìn lệch các thứ, nào khác kẻ mù.
Gặp người sắc đẹp, liếc trộm nhìn ngang,
Lòa mắt chưa sanh, bản lai diện mục.
Thấy ai giàu có, giương mắt mải nhìn,
Gặp kẻ bần cùng, lờ đi chẳng đoái.
Người dưng chết chóc, nước mắt ráo khô,
Thân quyến qua đời, đầm đìa lệ máu.
Hoặc đến Tam Bảo, hoặc vào chùa chiền,
Gần tượng thấy kinh, mắt không thèm ngó.
Phòng Tăng điện Phật, gặp gỡ gái trai,
Mắt liếc mày đưa, đam mê sắc dục.
Không ngại Hộ Pháp, chẳng sợ Long Thần,
Trố mắt ham vui, đầu chưa từng cúi.
Những tội như thế, vô lượng vô biên,
Ðều từ mắt sanh, phải sa địa ngục.
Trải hằng sa kiếp, mới được làm người,
Dù được làm người, lại bị mù chột.

NGHIỆP CĂN TAI LÀ:

Ghét nghe chánh pháp, thích lắng lời tà,
Mê mất gốc chân, đuổi theo ngoại vọng.
Sáo đàn inh ỏi, bảo khúc long ngâm,
Văng vẳng mõ chuông, coi như ếch nhái.
Câu ví bài vè, bỗng nhiên để dạ,
Lời kinh câu kệ, không chút lắng tai.
Thoảng nghe khen hão, khấp khởi mong cầu,
Biết rõ lời lành, đâu từng ưng nhận.
Vài ba bạn rượu, năm bảy khách chơi,
Tán ngắn bàn dài, châu đầu nghe thích.
Hoặc gặp thầy bạn, dạy bảo đinh ninh,
Những điều hiếu trung, che tai bỏ mặc.
Hoặc nghe tiếng xuyến, bỗng nẩy lòng dâm,
Nghe nửa câu kinh, liền như tai ngựa.
Những tội như thế, vô lượng vô biên,
Ðầy ắp bụi trần, kể sao cho xiết.
Sau khi mạng chung, rơi ba đường ác,
Hết nghiệp thọ sanh, lại làm người điếc.

NGHIỆP CĂN MŨI LÀ:

Thường tham mùi lạ, trăm thứ ngạt ngào,
Chẳng thích chân hương, năm phần thanh tịnh.
Lan xông xạ ướp, chỉ thích tìm tòi,
Giới định hương huân, chưa từng để mũi.
Trầm đàn thiêu đốt, đặt trước Phật đài,
Nghểnh cổ hít hơi, trộm hương phẩy khói.
Theo dõi hương trần, long Thần chẳng nể,
Chỉ thích mùi sằng, trọn không chán mỏi.
Mặt đào má hạnh, lôi kéo chẳng lìa,
Cây giác hoa tâm, xoay đi không đoái.
Hoặc ra phố chợ, hoặc vào bếp sau,
Thấy bẩn thèm ăn, ưa nhơ kiếm nuốt.
Chẳng ngại tanh hôi, không kiêng hành tỏi,
Mê mải không thôi, như lợn nằm ổ.
Hoặc chảy nước mũi, hoặc hỉ đàm vàng,
Bôi cột quẹt thềm, làm nhơ đất sạch.
Hoặc say nằm ngủ, điện Phật phòng Tăng,
Hai mũi thở hơi, xông kinh nhơ tượng.
Ngửi sen thành trộm, nghe mùi thành dâm,
Không biết không hay, đều do nghiệp mũi.
Những tội như thế, vô lượng vô biên,
Sau khi mạng chung, đoạ ba đường khổ.
Trải nghìn muôn kiếp, mới được làm người,
Dù được làm người, quả báo bệnh mũi.

NGHIỆP CĂN LƯỠI LÀ:

Tham đủ mọi mùi, thích xét ngon dở,
Nếm hết các thứ, biết rõ béo gầy.
Sát hại sinh vật, nuôi dưỡng thân mình,
Quay rán cá chim, nấu hầm cầm thú.
Thịt tanh béo miệng, hành tỏi ruột xông,
Ăn rồi đòi nữa, nào thấy no lâu.
Hoặc đến đàn chay, cầu Thần lễ Phật,
Cố cam bụng đói, đợi lúc tiệc xong.
Sáng sớm ăn chay, cơm ít nước nhiều,
Giống hệt người đau, gắng nuốt thuốc, cháo.
Mắt đầy mỡ thịt, cười nói hân hoan,
Rượu chuốc cơm mời, nóng thay nguội đổi.
Bày tiệc đãi khách, cưới gả cho con,
Giết hại chúng sanh, vì ba tấc lưỡi.
Nói dối bày điều, thêu dệt bịa thêm,
Hai lưỡi bỗng sanh, ac khẩu dấy khởi.
Chửi mắng Tam Bảo, nguyền rủa mẹ cha,
Khinh khi Hiền Thánh, lừa dối mọi người.
Chê bai người khác, che dấu lỗi mình,
Bàn luận cổ kim, khen chê này nọ.
Khoe khoang giàu có, lăng nhục người nghèo,
Xua đuổi Tăng Ni, chửi mắng tôi tớ.
Lời dèm thuốc độc, nói khéo tiếng đàn,
Tô vẽ điều sai, nói không thành có.
Oán hờn nóng lạnh, phỉ nhổ non sông,
Tán dóc tăng phòng, ba hoa Phật điện.
Những tội như thế, vô lượng vô biên,
Ví như cát bụi, đếm không thể cùng.
Sau khi mạng chung, vào ngục Bạt Thiệt (kéo lưỡi),
Cày sắt kéo dài, nước đồng rót mãi.
Quả báo hết rồi, muôn kiếp mới sanh,
Dù được làm người, lại bị câm bặt.

NGHIỆP CĂN THÂN LÀ:

Tinh cha huyết mẹ, chung hợp nên hình,
Năm tạng trăm hài, cùng nhau kết hợp.
Chấp cho là thật, quên mất pháp thân,
Sanh dâm sát trộm, bèn thành ba nghiệp.

Nghiệp sát sanh là:

Luôn làm bạo ngược, chẳng khởi nhân từ,
Giết hại bốn loài, đâu biết một thể.
Lầm hại cố giết, tự làm dạy người,
Hoặc tìm thầy bùa, đem về ếm đối.
Hoặc làm thuốc độc, để hại sinh linh,
Chỉ cốt hại người, không hề thương vật.
Hoặc đốt núi rừng, lấp cạn khe suối,
Buông chày bủa lưới, xuýt chó thả chim.
Thấy nghe tùy hỷ, niệm dấy tưởng làm,
Cử động vận hành, đều là tội lỗi.

Nghiệp trộm cắp là:

Thấy tài bảo người, thầm khởi tâm tà,
Phá khóa cạy then, sờ bao mò túi.
Thấy của thường trụ, lòng dấy khởi tham,
Trộm của nhà chùa, không sợ Thần giận.
Không những vàng ngọc, mới mắc tội to,
Ngọn cỏ cây kim, đều thành nghiệp trộm.

Nghiệp tà dâm là:

Lòng mê nhan sắc, mắt đắm phấn son,
Chẳng đoái liêm trinh, riêng sanh lòng dục.
Hoặc nơi đất Phật, chánh điện phòng Tăng,
Cư sĩ gái trai, đụng chạm đùa giỡn.
Tung hoa ném quả, đạp cẳng kề vai,
Khoét ngạch trèo tường, đều là dâm nghiệp.
Những tội như thế, vô lượng vô biên,
Đến lúc mạng chung, đều vào địa ngục.
Gái nằm giường sắt, trai ôm cột đồng,
Muôn kiếp tái sinh, lại chịu tội báo.

NGHIỆP CĂN Ý LÀ:

Nghĩ vơ nghĩ vẩn, không lúc nào dừng,
Mắc mứu tình trần, kẹt tâm chấp tướng.
Như tằm kéo kén, càng buộc càng bền,
Như bướm lao đèn, tự thiêu tự đốt.
Hôn mê chẳng tỉnh, điên đảo dối sanh,
Não loạn tâm thần, đều do ba độc.

Tội keo tham là:

Âm mưu ghen ghét, keo cú vét vơ,
Mười vốn ngàn lời, còn cho chưa đủ.
Của chứa tợ sông, lòng như hũ chảy,
Rót vào lại hết, nên nói chưa đầy.
Tiền mục lúa hư, không cứu đói rét,
Lụa là chất đống, nào có giúp ai.
Ðược người mấy trăm, chưa cho là nhiều,
Mất mình một đồng, tưởng như hao lớn.
Trên từ châu báu, dưới đến tơ gai,
Kho đụn chất đầy, chưa từng bố thí.
Bao nhiêu sự việc, ngày tính đêm lo,
Khổ tứ lao thần, đều từ tham nghiệp.

Tội nóng giận là:

Do tham làm gốc, lửa giận tự thiêu,
Quắc mắt quát to, tiêu tan hòa khí.
Không riêng người tục, cả đến thầy tu,
Kinh luận tranh giành, cùng nhau công kích.
Chê cả Sư trưởng, nhiếc đến mẹ cha,
Cỏ nhẫn héo vàng, lửa độc rực cháy.
Buông lời hại vật, cất tiếng hại người,
Không nhớ từ bi, chẳng theo luật cấm.
Bàn thiền tợ Thánh, trước cảnh như ngu,
Dầu ở cửa không, chưa thành vô ngã.
Như cây sinh lửa, lửa cháy đốt cây,
Những tội trên đây, đều do nghiệp giận.

Tội ngu si là:

Căn tánh đần độn, ý thức tối tăm,
Chẳng hiểu tôn ti, không phân thiện ác.
Chặt cây hại mạng, giết gấu gãy tay,
Mắng Phật chuốc ương, phun trời ướt mặt.
Quên ơn quên đức, bội nghĩa bội nhân,
Không tỉnh không xét, đều do si nghiệp.
Những tội như thế, rất nặng rất sâu,
Đến lúc mạng chung, rơi vào địa ngục.
Trải ngàn muôn kiếp, mới được thọ sanh,
Dù được thọ sanh, lại mắc ngu báo.
Nếu không sám hối, đâu được tiêu trừ,
Nay trước Phật đài, thảy đều sám hối.

REPENTANCE OF SIX SENSUAL ORGANS
(Eyes, Ears, Nose, Tongue, Body, Consciousness)

I sincerely repent because for uncountable lifetimes,
I have forgotten my true mind and unawared of the right Way.
Therefore, I have fallen into three paths of suffering caused by the mistakes of six sensual organs.
If I don't repent now, I should regret later.

KARMAS OF THE EYES:

The eyes observe carefully evil matters, while ignore good deeds.
They misperceive fake flowers and forget to look at the real moon.
Affection and hatred arise to cause rivalry in good and bad forms.
Suddenly, delusion arises to cover the right view.
White, green, purple, or yellow, we dispute which is better.
The eyes misview like blind.
Seeing good-looking people, the eyes glance back and forth.
Dimmed the eyes, but the true nature still not arises.
Seeing wealthy people, the eyes open wide staring.
Seeing poor people, the eyes quickly ignore.
When strangers die, the eyes shed no tear.
But our relatives pass away, the eyes sob.
In front of the Three Jewels or in the temples.
Never care to look at Buddhist scriptures.
But they pay attention to other men or women.
Exchanging eyes, we indulge in sexual acts.
Neither fear of Dharma protectors nor Saints.
The eyes open wide in joy, the head would never bow.
Those karmas are innumerable.
Committed by the eyes, which lead us into hell.
After innumerable lifetimes, we reborn as humans.
As a result, we become blind.

KARMAS OF THE EARS:

Because the ears hate listening to dharmas, but enjoy evil speeches.
We have forgotten the true mind to run after sensual objects.
Ordinary music sounds like a masterpiece.
Bells sound like amphibian's trilling.
All satirizations, we remember well.
Recitations, the ears are careless to hear.
Hearing complements, we would wish for more.
Hearing truthful advices, we strongly oppose.
With a few buddies or party friends.
Together enjoy listening and gossiping.
Sincerely, our teachers and friends advice.
But to those rightful matters, the ears refuse to listen.
Hearing bracelet sounds, arise sensual feelings.
Hearing chants, understand nothing.
Such karmas are innumerable.
Mound like dusts, indescribably.
After death, we fall into three evil paths.
At the end of karmic rebirths, we reborn as deaf humans.

KARMAS OF THE NOSE:

Often likes exclusive and sweet scents.
Never interested in the true and pure scent.
Attracted in appealing scents or musk.
Never pay attention to the scent of discipline or concentration.
On the Buddha altar, sandalwood is burning.
Sniffing its scent improperly.
Attach to mundane fragrances, regardless of Protectors' reaction.
We would never be tired,
Seeing pretty faces, we strongly pursue.
But quickly turn away from wisdom and mindfulness,
Whether at the marketplace or in the kitchen.
Crave of filthy or rotten foods.
Be mindless of stinkiness or to abstain from onion and garlic.
Enjoy them like pig on excrete pit.
Nose-blowing, spitting, wiping sputum everywhere even on the floor.
Sleep tranquilly at Buddha shrine or Sangha's rooms.
Exhale bad breath smearing scriptures and Buddha statues.
Improperly smell lotus is same as robbing the scent.
Smelling perfumes arise sensual mind.
Such evil acts of the nose are those that we are not awared of
These types of transgression are innumerable.
After death, we fall into three evil paths.
After thousands of millions of lifetimes, we reborn as humans.
As a result, we have a nose disease.

KARMAS OF THE TONGUE:

Craves for all kinds of flavors.
Be selective in good/bad foods.
Eat all types of foods and know them all.
Killing animals to nurture our body.
Roasting, frying, or stewing meats.
With garlic and onion, they become tasty.
Want more foods as the stomach never gets full.
Attend religious ceremony with empty stomach, waiting for the serving time.
Eating vegetarian foods in the morning like ill people swallow medicine or congi.
Seeing meats, we are delighted.
Wines and foods are changing and offering.
Throwing parties or wedding receptions.
Killing animals just for the craving of the tongue.
Saying lies and tailoring,
The tongue splits in two and evil speech karma arises.
Scolding at the Three Jewels and cursing at parents.
Disdain sages, deceive people.
Disparage others to cover our mistakes.
Discuss past and current events, we praise or criticize.
Brag on our wealth, but humiliate the poor.
Drive away the Sangha, scold at servants.
Backbiting is like poison, while smooth talking like soft music.
Embellish wrongful matters or fibbing.
Hate weather, slander the homeland.
Converse in the monks' chamber or even boast at the Buddha hall.
These types of transgression are innumerable.
Mound like uncountable dusts in this world.
After death, we fall into Ploughing Tongue Hell.
The tongue is drawn forth, ploughed by hot iron, and burned by melting copper.
After retribution and thousands of millions of lifetimes, we reborn as humans.
As a result, we become mute.

KARMAS OF THE BODY:

The contribution of both parents have made of our body.
The five organs and hundred internal bones together are formed.
As we obstinate this body as real, we have forgotten our dharma body.
Therefore, we develop three karmas from the evil acts of killing, Stealing and adultery.

Karma of Killing:

Often ruthlessly make cruel acts
Killing four species without knowing all carry the same type of formation.
Mistakenly kill or harm others, even show them the way.
Either find talisman from a sorcerer to exorcise someone,
Or make poison to kill sentient beings.
All purposes are to kill people and so there's no loving for animals.
Burn forests, mountains, or fill in the springs.
Make all traps to capture animals.
Because our false perception is in control, the false thoughts dictate our acts.
All committed acts are transgressional.

Karma of Stealing:

Seeing other people's possessions, evil mind arises.
First, break door locks, then steal others' belongings.
Seeing the temple's properties, greedy mind arises.
Lift them away, fearless of Protectors' anger.
Not only stealing valuable objects like gold or jade is transgressional.
But even a small object like a blade of grass or a needle is transgressional as well.

Karma of Adultery:

The mind indulges in beauty, while the eyes indulge in fake makeup.
Regardless of shame, arises the mind of sexuality.
At temples, Buddhist halls, or Sangha's chambers.
Male and female laities touch and play.
Throw flowers or fruits, then flirt.
Dig holes or climb up the walls.
All of these acts are the acts of adultery.
These types of transgression are innumerable.
After death, we fall into hell.
Females will have to lie on iron bed.
Males will have to hold bronze pole.
After thousands of millions of lifetimes, we still subject to negative retribution.

KARMAS OF THE CONSCIOUSNESS:

Keeps thinking nonsense without stopping.
Dwells in six sensual objects as well as attaches to forms.
It's like a silkworm spinning a cocoon, and being trapped when the silk gets thicker.
Like butterflies kill themselves by hurling at the light.
The foolishness causes the mind of confusion.
Disturbs the mind is the three poisons.

Transgression of Greed:

Hate people, we conspire to take away their possessions.
Gaining thousand dollars of profit from ten dollars is not enough.
The assess is huge like a river, but the heart is like a jar leaks.
It's just full, but gets emptied; therefore, we claim it's not full.
Even though money decays and wheat gets rotten, we still refuse to help the poor.
The silk piles high, but we're careless to help anyone.
If we're given several hundreds of dollars, it's not a lot.
But if loosing one dollar, it's our tremendous loss.
From jewelries to silks,
We pile them, but would never give them away.
So many matters that we have to care and worry day and night.
All annoyances are developed by the karma of greed.
.
Transgression of Anger:

The anger is caused by greed.
Eyes open wide, we shout to destroy harmony.
Not only laities, but even monastic people.
Dispute on Dharmas, then attack each other.
Criticize the masters and scold at parents.
The grass of endurance withers while the fire of anger blazes.
We pour evil speeches to hurt people and harm animals.
We forget compassion and disfollow forbidden rules.
Explain the concept of Zen real well, but become fool when facing with reality.
Even standing at the gate of emptiness, we still not yet discern the concept of formlessness.
It's like a tree bursts with fire, and the fire then burns the tree.
These types of transgression are developed by the karma of anger.

Transgression of Ignorance:

Our natural characteristic is dull, so as the mind.
Doesn't understand the hierarchy or distinguish right versus wrong.
Chopping trees would cost our life, meanwhile, killing bears would detach our arm.
Scolding at the Buddha causes disaster, while spitting at the sky would wet our face.
We forget and ingrate other's gratitude.
We are unawakened to make assessment because of the karma of ignorance.
These types of transgression is quite deep.
After death, we fall into hell.
In thousands of millions of lifetimes, we reborn as humans.
As a result, we become unintelligent.
If we don't repent, these karmas could not be terminated.
Now, in front of the Buddha's altar, we vow to repent them all.